BẢN TIN PHÁP LUẬT CILAF THÁNG 11/2020 – NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA PHÁP LUẬT VỀ THUẾ VÀ HÓA ĐƠN

CILAF & PARTNERS  với mong muốn được đồng hành và hỗ trợ, xin gửi đến Quý Khách hàng bản tin pháp luật tháng 11/2020 với các nội dung pháp lý xoay quanh những điểm mới của pháp luật Thuế và hóa đơn.

Kể từ ngày 01/11/2020, Thông tư số 88/2020/TT-BTC của Bộ Tài chính bắt đầu có hiệu lực. Theo đó, một số quy định liên quan đến Hóa đơn điện tử khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ cũng sẽ được sửa đổi, bổ sung. Thêm vào đó, Nghị định 125/2020/NĐ-CP và Nghị định số 126/2020/NĐ-CP của Chính phủ sẽ bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 05/12/2020, nhiều điểm mới liên quan đến quản lý thuế, hóa đơn, cũng như về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế, hóa đơn sẽ được thực thi trong thời gian sắp tới.

Trong bản tin pháp luật Tháng 11/2020, CILAF & PARTNERS gửi đến Quý Khách hàng các điểm tin chính như sau:

QUY ĐỊNH MỚI VỀ HÓA ĐƠN ĐIỆN TỬ

1. Gia hạn hiệu lực một số văn bản quy phạm pháp luật

Ngày 30/10/2020, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 88/2020/TT-BTC về sửa đổi, bổ sung Điều 26 Thông tư số 68/2019/TT-BTC ngày 30 tháng 9 năm 2019 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 119/2018/NĐ-CP ngày 12 tháng 9 năm 2018 của Chính phủ quy định về hóa đơn điện tử khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ. Theo đó, các văn bản điều chỉnh việc thi hành, áp dụng và sử dụng pháp luật trong các lĩnh vực sau vẫn sẽ được duy trì hiệu lực cho đến ngày 30/6/2022:

  • Việc khởi tạo, phát hành và sử dụng hóa đơn điện tử bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ vẫn tiến hành theo hướng dẫn tại Thông tư số 32/2011/TT-BTC ngày 14/03/2011;
  • Về quản lý, sử dụng hóa đơn vận tải vẫn thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính tại Thông tư số 191/2010/TT-BTC ngày 01/12/2010;
  • Nội dung về thuế giá trị gia tăng và quản lý thuế vẫn thực hiện theo quy định của Nghị định 12/2015/NĐ-CP ngày 12/02/2015 và các văn bản hướng dẫn hiện hành;
  • Vấn đề thí điểm sử dụng hóa đơn điện tử có mã xác thực của cơ quan thuế vẫn được tiến hành và thực hiện theo Quyết định số 1209/QĐ-BTC do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành ngày 23/06/2015.

2. Bỏ quy định bắt buộc sử dụng hóa đơn điện tử         

Nghị định 123/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 quy định về hóa đơn, chứng từ đã bãi bỏ khoản 2 và khoản 4 Điều 35 Nghị định 119/2018/NĐ-CP liên quan đến việc tổ chức thực hiện hóa đơn điện tử, hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế đối với các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức khác, hộ, cá nhân kinh doanh kể từ ngày 01 tháng 11 năm 2020.

Theo đó, Chính phủ chỉ khuyến khích cơ quan, tổ chức, cá nhân đáp ứng điều kiện về hạ tầng công nghệ thông tin áp dụng quy định về hóa đơn, chứng từ điện tử theo luật định này trước ngày 01/7/2022.

QUY ĐỊNH VỀ KÊ KHAI THUẾ, NỘP THUẾ

1. Quy định về người nộp thuế tạm ngừng hoạt động, kinh doanh

Nghị định số 126/2020/NĐ-CP do Chính Phủ ban hành quy định chi tiết một số điều của luật Quản lý thuế (“Nghị định 126/2020/NĐ-CP”) có hiệu lực kể từ ngày 05/12/2020 quy định nhiều điểm mới về quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế trong thời gian tạm ngừng kinh doanh, hoạt động. Trong đó, đáng lưu ý nhất là:

  • Người nộp thuế không phải nộp hồ sơ khai thuế, trừ trường hợp người nộp thuế tạm ngừng hoạt động, kinh doanh không trọn tháng, quý, năm dương lịch hoặc năm tài chính thì vẫn phải nộp hồ sơ khai thuế tháng, quý; hồ sơ quyết toán năm;
  • Người nộp thuế tiếp tục hoạt động, kinh doanh trở lại đúng thời hạn đã đăng ký thì không phải thông báo với cơ quan nơi đã đăng ký tạm ngừng hoạt động, kinh doanh theo quy định. Trường hợp người nộp thuế hoạt động, kinh doanh trở lại trước thời hạn thì phải thông báo với cơ quan nơi đã đăng ký tạm ngừng hoạt động, kinh doanh và phải thực hiện đầy đủ các quy định về thuế, nộp hồ sơ khai thuế, nộp báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn theo quy định.

2. Các trường hợp được khai thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân theo quý

Nghị định số 126/2020/NĐ-CP có hiệu lực kể từ ngày 05/12/202 quy định các trường hợp được khai thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân theo quý như sau:

  • Người nộp thuế thuộc diện khai thuế giá trị gia tăng theo tháng nếu có tổng doanh thu bán hàng hoá và cung cấp dịch vụ của năm trước liền kề từ 50 tỷ đồng trở xuống thì được khai thuế giá trị gia tăng theo quý.

Trường hợp người nộp thuế mới bắt đầu hoạt động, kinh doanh thì được lựa chọn khai thuế GTGT theo quý. Sau khi sản xuất kinh doanh đủ 12 tháng thì từ năm dương lịch liền kề tiếp theo năm đã đủ 12 tháng sẽ căn cứ theo mức doanh thu của năm dương lịch trước liền kề (đủ 12 tháng) để thực hiện khai thuế GTGT theo kỳ tính thuế tháng hoặc quý.

  • Người nộp thuế thuộc diện khai thuế thu nhập cá nhân theo tháng để có thể chọn khai thuế thu nhập cá nhân theo quý cũng phải đáp ứng những điều kiện như trên.

3. Tăng cường quản lý hoạt động kinh doanh thương mại điện tử

Nghị định 126/2020/NĐ-CP quy định các ngân hàng thương mại và tổ chức cung cấp dịch vụ thanh toán khác có trách nhiệm sau đây:

  • Cung cấp các thông tin về tài khoản thanh toán của người nộp thuế mở tại ngân hàng cho cơ quan quản lý thuế;
  • Thực hiện khấu trừ, nộp thay nghĩa vụ thuế phải nộp của nhà cung cấp ở nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam có hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số với tổ chức, cá nhân ở Việt Nam;
  • Trích tiền để nộp thuế từ tài khoản của người nộp thuế, phong tỏa tài khoản của người nộp thuế bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế theo đề nghị của cơ quan quản lý thuế.

4. Pháp luật về thuế sẽ cứng rắn và cụ thể hơn

Nghị định 126/2020/NĐ-CP quy định những nội dung đáng lưu ý về chống tránh thuế như:

– Quy định về việc Cơ quan thuế được trao thêm quyền hạn để ấn định thuế khi người nộp thuế:

  • Thực hiện các giao dịch không đúng với bản chất kinh tế, không đúng thực tế phát sinh nhằm mục đích giảm nghĩa vụ thuế.
  • Sử dụng hóa đơn không hợp pháp để mua, trao đổi hàng hóa, dịch vụ ngay cả trong trường hợp hàng hóa, dịch vụ là có thật và nghĩa vụ thuế liên quan đã được kê khai.
  • Không chấp hành quyết định thanh tra, kiểm tra thuế.
  • Không tuân thủ quy định về nghĩa vụ kê khai, xác định giá giao dịch liên kết.

– Mở rộng các trường hợp cơ quan thuế có quyền công khai thông tin người nộp thuế như: không nộp tờ khai thuế/ không nộp thuế trong vòng 90 ngày kể từ ngày đến hạn; Chống, ngăn cản công chức thuế, công chức hải quan thi hành công vụ; Cá nhân, tổ chức không chấp hành các quyết định hành chính về quản lý thuế mà có hành vi phát tán tài sản, bỏ trốn; Ngừng hoạt động, chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế, không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký.

– Đại diện theo pháp luật của công ty có thể bị hoãn xuất cảnh khỏi Việt Nam nếu công ty chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế.

5. Thay đổi một số thủ tục hành chính về thuế

Kể từ ngày 05/12/2020, Nghị định 126/2020/NĐ-CP đã có một số thay đổi liên quan thủ tục hành chính về thuế, cụ thể:

– Đối với các doanh nghiệp không thuộc diện phải lập báo cáo tài chính quý, nghĩa vụ thuế TNDN tạm tính hàng quý được căn cứ trên kết quả kinh doanh hàng quý và quy định pháp luật về thuế. Quy định này cũng được áp dụng đối với các hãng vận tải nước ngoài nộp thuế tại Việt Nam theo cơ chế thuế nhà thầu nước ngoài.

– Kể từ ngày 05/12/2020 Doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh tại các tỉnh khác nơi doanh nghiệp có trụ sở chính, mà các hoạt động này được hạch toán tập trung tại trụ sở chính, thì phải kê khai thuế tập trung tại trụ sở chính, đồng thời phân bổ số thuế phải nộp tại các tỉnh tương ứng. Tuy nhiên, hướng dẫn trên không áp dụng đối với một số lĩnh vực nhất định như vận tải, bảo hiểm, xây dựng. Đối với các đơn vị phụ thuộc hoặc địa điểm kinh doanh được hưởng ưu đãi thuế TNDN, doanh nghiệp cần xác định riêng (mà không được phân bổ) số thuế TNDN phải nộp.

– Nghị định cũng quy định nội dung hướng dẫn trách nhiệm của các tổ chức kê khai và nộp thuế thay cho người nộp thuế. Một số điểm nổi bật bao gồm:

  • Tổ chức (công ty chứng khoán, ngân hàng hoặc doanh nghiệp nơi cá nhân có vốn góp tùy theo từng trường hợp cụ thể) phải thay mặt cá nhân kê khai và nộp thuế TNCN phát sinh từ các khoản cổ tức bằng chứng khoán, thưởng bằng chứng khoán, lợi tức ghi tăng vốn, góp vốn của các cá nhân bằng bất động sản/phần vốn góp/chứng khoán.
  • Tổ chức chi trả các khoản thưởng, hỗ trợ đạt doanh số, khuyến mại, chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán, hỗ trợ bằng tiền hoặc không bằng tiền cho các hộ/cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán thì phải kê khai và nộp thuế TNCN thay cho các hộ/cá nhân kinh doanh này.

– Nghị định cũng hướng dẫn về việc lập tờ khai thuế, các trường hợp kê khai thuế theo tháng, quý, năm hoặc theo từng lần phát sinh, và nơi nộp tờ khai thuế, v.v.

VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC THUẾ, HÓA ĐƠN

1. Xử phạt khi sử dụng hóa đơn bị ngừng sử dụng trong    thời gian bị cưỡng chế, hóa đơn không đăng ký…

So với Thông tư 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014, Nghị định số 125/2020/NĐ-CP của Chính phủ  đã bổ sung hành vi sử dụng hóa đơn không hợp pháp có thêm việc sử dụng hóa đơn bị ngừng sử dụng trong thời gian bị cưỡng chế, hóa đơn không đăng ký sử dụng với cơ quan thuế, hóa đơn điện tử chưa có mã của cơ quan thuế… Từ ngày 05 tháng 12 năm 2020, người thực hiện các hành vi nói trên sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật.

2. Xử phạt hành vi về hủy, tiêu hủy hóa đơn quá thời hạn

Nghị định 125/2020/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 19/10/2020 về xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn và chính thức có hiệu lực vào ngày 05/12/2020 quy định nhiều hình thức xử phạt đối với hành vi hủy, tiêu hủy hóa đơn quá thời hạn:

  • Phạt cảnh cáo đối với hành vi hủy, tiêu hủy hóa đơn quá thời hạn từ 01 đến 05 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn phải hủy, tiêu hủy hóa đơn theo quy định mà có tình tiết giảm nhẹ;
  • Phạt từ 02-04 triệu đồng đối với một trong các hành vi như hủy không đúng quy định các hóa đơn đã phát hành nhưng chưa lập, hóa đơn không còn giá trị sử dụng, không hủy các hóa đơn đã phát hành nhưng chưa lập, không còn giá trị sử dụng; không hủy hóa đơn mua của cơ quan thuế đã hết hạn sử dụng…
  • Phạt tiền từ 04-08 triệu đồng đối với hành vi hủy, tiêu hủy hóa đơn quá thời hạn từ 11 ngày làm việc trở lên, kể từ ngày hết thời hạn phải hủy, tiêu hủy hóa đơn theo quy định sẽ bị xử.

3. Bổ sung mức phạt lập hóa đơn không đúng thời hạn

Nghị định số 125/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về thuế, hóa đơn sẽ chính thức có hiệu lực, trong đó nổi bật là bổ sung thêm mức phạt khi lập hóa đơn không đúng thời điểm. Như vậy, kể từ ngày 05/12/2020, người vi phạm sẽ bị xử phạt về hành vi lập hóa đơn không đúng thời điểm như sau:

  •  Phạt cảnh cáo: Nếu hành vi vi phạm này không dẫn đến chậm thực hiện nghĩa vụ thuế và có tình tiết giảm nhẹ. Nếu không có tình tiết giảm nhẹ thì phạt tiền ở mức tối thiểu của khung hình phạt;
  • Phạt tiền từ 04 – 08 triệu đồng: Các hành vi khác ngoài hành vi nêu trên về việc lập hóa đơn không đúng thời điểm;
  • Phạt tiền từ 03 – 05 triệu đồng khi: Lập hóa đơn không đúng thời điểm nhưng không dẫn đến chậm thực hiện nghĩa vụ thuế trừ trường hợp bị phạt cảnh cáo.

4. Mức xử phạt khi chuyển dữ liệu hóa đơn điện tử quá thời hạn

Theo Nghị định 125/2020/NĐ-CP kể từ ngày 05/12/2020 hành vi chuyển dữ liệu hóa đơn điện tử cho cơ quan thuế quá thời hạn sẽ bị xử phạt hành chính như sau:

  • Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi chuyển dữ liệu hóa đơn điện tử cho cơ quan thuế quá thời hạn từ 01 đến 05 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn theo quy định.
  • Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
    • Chuyển dữ liệu hóa đơn điện tử đến cơ quan thuế quá thời hạn từ 06 đến 10 ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn theo quy định;
    • Chuyển bảng tổng hợp dữ liệu hóa đơn điện tử không đầy đủ số lượng hóa đơn đã lập trong kỳ.
  • Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
    • Chuyển dữ liệu hóa đơn điện tử đến cơ quan thuế quá thời hạn từ 11 ngày làm việc trở lên, kể từ ngày hết thời hạn theo quy định;
    • Không chuyển dữ liệu hóa đơn điện tử cho cơ quan thuế theo thời hạn quy định.

5. Hình thức xử phạt khi một đối tượng thực hiện nhiều hành vi vi phạm pháp luật về thuế

Tại Khoản 3, Điều 5 Nghị định 125/2020/NĐ-CP đã quy định rõ về các trường hợp thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính nhưng không bị xử phạt về từng hành vi vi phạm, cụ thể là các trường hợp sau:

  • Trường hợp cùng một thời điểm người nộp thuế khai sai một hoặc nhiều chỉ tiêu trên các hồ sơ thuế của cùng một sắc thuế thì hành vi khai sai thuộc trường hợp xử phạt về thủ tục thuế chỉ bị xử phạt về một hành vi khai sai chỉ tiêu trên hồ sơ thuế có khung phạt tiền cao nhất trong số các hành vi đã thực hiện theo quy định tại Nghị định này và áp dụng tình tiết tăng nặng vi phạm nhiều lần;
  • Trường hợp cùng một thời điểm người nộp thuế chậm nộp nhiều hồ sơ khai thuế của nhiều kỳ tính thuế nhưng cùng một sắc thuế thì chỉ bị xử phạt về một hành vi chậm nộp hồ sơ khai thuế có khung phạt tiền cao nhất trong số các hành vi đã thực hiện theo quy định tại Nghị định này và áp dụng tình tiết tăng nặng vi phạm nhiều lần;
  • Trường hợp trong số hồ sơ khai thuế chậm nộp có hồ sơ khai thuế chậm nộp thuộc trường hợp trốn thuế thì tách riêng để xử phạt về hành vi trốn thuế;
  • Trường hợp cùng một thời điểm người nộp thuế chậm nộp nhiều thông báo, báo cáo cùng loại về hóa đơn thì người nộp thuế bị xử phạt về một hành vi chậm nộp thông báo, báo cáo về hóa đơn có khung phạt tiền cao nhất trong số các hành vi đã thực hiện quy định tại Nghị định này và áp dụng tình tiết tăng nặng vi phạm nhiều lần;
  • Hành vi vi phạm về sử dụng hóa đơn không hợp pháp, sử dụng không hợp pháp hóa đơn thuộc trường hợp bị xử phạt theo Điều 16, Điều 17 Nghị định 125/2020 thì không bị xử phạt theo Điều 28 Nghị định 125/2020.

>>>>Để xem đầy đủ bản tin pháp luật tháng 11/2020 của CILAF & PARTNERS, mời Quý Khách hàng tải bản tin TẠI ĐÂY

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *