Những chính sách nổi bật có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2022

173 lượt xem

Với mong muốn đồng hành và hỗ trợ, CILAF & PARTNERS xin gửi đến Quý Khách hàng, Quý Doanh nghiệp những chính sách nổi bật có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2022, cụ thể như sau:

1. Quy định về mức lương tối thiểu đối với người lao động được áp dụng kể từ ngày 01/7/2022

Kể từ ngày 01/7/2022, Nghị định 38/2022/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động (NLĐ) có hiệu lực và thay thế Nghị định 90/2019/NĐ-CP. Theo đó, nhiều quy định mới được áp dụng, nổi bật như:

Tăng 6% mức lương tối thiểu vùng theo tháng

Điều này được quy định tại khoản 1, Điều 3 của Nghị định 38/2022/NĐ-CP. Theo đó:

(Đơn vị tính: đồng/tháng)

Vùng

Mức lương tối thiểu áp dụng từ 01/7/2022

Mức lương tối thiểu trước ngày 01/7/2022

Mức tăng

Vùng I

4.680.000

4.420.000

260.000

Vùng II

4.160.000

3.920.000

240.000

Vùng III

3.640.000

3.430.000

210.000

Vùng IV

3.250.000

3.070.000

180.000

Như vậy, có thể thấy mức lương tối thiểu vùng đã được tăng hơn so với mức của quy định cũ khoảng từ 180.000 đồng – 260.000 đồng, tương đương với khoảng 6%.

Bổ sung thêm mức lương tối thiểu vùng theo giờ

Bộ luật Lao động 2012 và Bộ luật Lao động năm 2019 đều có đề cập đến việc xác định mức lương tối thiểu theo giờ, theo tháng. Tuy nhiên, các Nghị định quy định về mức lương tối thiểu vùng trước đây mới chỉ ấn định mức lương tối thiểu theo tháng, chưa quy định về mức lương tối thiểu giờ.

Nghị định 38/2022/NĐ-CP là Nghị định đầu tiên ghi nhận về mức lương tối thiểu giờ. Theo đó, mức lương tối thiểu giờ là mức lương thấp nhất làm cơ sở để thỏa thuận và trả lương đối với người lao động áp dụng hình thức trả lương theo giờ, bảo đảm mức lương theo công việc hoặc chức danh của người lao động làm việc trong một giờ và hoàn thành định mức lao động hoặc công việc đã thỏa thuận không được thấp hơn mức lương tối thiểu giờ. Cụ thể, mức lương tối thiểu giờ được áp dụng từ ngày 01/7/2022 như sau:

Vùng

Mức lương tối thiểu giờ

(Đơn vị: đồng/giờ)

Vùng I

22.500

Vùng II

20.000

Vùng III

17.500

Vùng IV

15.600

Quy định này được kỳ vọng sẽ góp phần đảm bảo tiền lương cho những người lao động làm công việc mang tính chất linh hoạt, không trọn thời gian trong các hộ gia đình, các cơ sở kinh doanh nhỏ lẻ như nhà hàng, siêu thị, quán cà phê...

Thay đổi danh mục địa bàn áp dụng mức lương tối thiểu vùng

Ngoài việc tăng lương tối thiểu vùng, Nghị định 38/2022/NĐ-CP còn điều chỉnh lại một số địa bàn thuộc các vùng I, II, III, IV từ đó làm thay đổi mức lương tối thiểu vùng ở một số địa phương. Cụ thể như sau:

- Tại vùng I: Bổ sung thành phố Thủ Đức do được gộp từ Quận 2, Quận 9 và Quận Thủ Đức thuộc thành phố Hồ Chí Minh.

- Điều chỉnh địa bàn từ Vùng II lên Vùng I đối với: Thành phố Hạ Long thuộc tỉnh Quảng Ninh, huyện Xuân Lộc thuộc tỉnh Đồng Nai.

- Điều chỉnh địa bàn từ Vùng III lên Vùng II đối với: các thị xã Quảng Yên, Đông Triều thuộc tỉnh Quảng Ninh; thành phố Hoà Bình và huyện Lương Sơn thuộc tỉnh Hòa Bình; thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò và các huyện Nghi Lộc, Hưng Nguyên thuộc tỉnh Nghệ An; thị xã Hòa Thành thuộc tỉnh Tây Ninh; thành phố Bạc Liêu thuộc tỉnh Bạc Liêu; thành phố Vĩnh Long, thị xã Bình Minh thuộc tỉnh Vĩnh Long.

- Điều chỉnh địa bàn từ Vùng IV lên Vùng III đối với: các huyện Vân Đồn, Hải Hà, Đầm Hà, Tiên Yên thuộc tỉnh Quảng Ninh; các huyện Quỳnh Lưu, Yên Thành, Diễn Châu, Đô Lương, Nam Đàn, Nghĩa Đàn và các thị xã Thái Hòa, Hoàng Mai thuộc tỉnh Nghệ An; huyện Hòa Bình thuộc tỉnh Bạc Liêu; huyện Mang Thít thuộc tỉnh Vĩnh Long.

2. Những thay đổi về chính sách BHXH, BHYT, BHTN ảnh hưởng từ việc tăng lương tối thiểu

Ảnh hưởng từ việc tăng lương tối thiểu vùng, từ ngày 01/7/2022, việc đóng và hưởng các loại bảo hiểm bắt buộc như bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) cũng có sự điều chỉnh, cụ thể:

Tăng tiền lương tháng đóng BHXH, BHTN, BHYT tối thiểu

Hiện tại, mức tối thiểu tiền lương tháng đóng BHXH được quy định tại mục 2.6, Điều 6 – Quyết định 595/QĐ-BHXH như sau:

2.6. Mức tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc quy định tại Khoản này không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng tại thời điểm đóng đối với người lao động làm công việc hoặc chức danh giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường.

a) Người lao động làm công việc hoặc chức danh đòi hỏi lao động qua đào tạo, học nghề (kể cả lao động do doanh nghiệp tự dạy nghề) phải cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng;

b) Người lao động làm công việc hoặc chức danh có điều kiện lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm phải cao hơn ít nhất 5%; công việc hoặc chức danh có điều kiện lao động đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm phải cao hơn ít nhất 7% so với mức lương của công việc hoặc chức danh có độ phức tạp tương đương, làm việc trong điều kiện lao động bình thường.”

Theo khoản 2 Điều 3 Luật BHYT năm 2008, sửa đổi năm 2014, mức đóng BHYT của người lao động được xác định theo tỷ lệ phần trăm của tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc.

Cùng với đó, khoản 2 Điều 58 Luật Việc làm 2013 cũng ghi nhận, tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của người lao động làm việc tại doanh nghiệp chính là tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc của người đó.

Như vậy, từ ngày 01/7/2022, khi lương tối thiểu vùng tăng, mức tiền lương tính đóng BHXH, BHYT, BHTN tối thiểu của người lao động cũng sẽ tăng tương ứng.

Tăng tiền lương tháng đóng BHTN tối đa

Tại khoản 2, Điều 58 – Luật việc làm 2013 quy định:

“2. Người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp là tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thực hiện theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội. Trường hợp mức tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp cao hơn hai mươi tháng lương tối thiểu vùng thì mức tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp bằng hai mươi tháng lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật lao động tại thời điểm đóng bảo hiểm thất nghiệp.

Do đó, từ ngày 01/7/2022, khi chính sách tăng lương tối thiểu vùng được đưa vào thực hiện thì mức tiền lương tối đa đóng BHTN cũng sẽ được điều chỉnh tăng. Cụ thể:

(Đơn vị tính: đồng/tháng)

Vùng

Tiền lương đóng BHTN tối đa trước 01/7/2022

Tiền lương đóng BHTN từ 01/7/2022

Mức tăng

Vùng I

88.400.000

93.600.000

5.200.000

Vùng II

78.400.000

83.200.000

4.800.000

Vùng III

68.600.000

72.800.000

4.200.000

Vùng IV

61.400.000

65.000.000

3.600.000

Tăng mức hưởng trợ cấp thất nghiệp tối đa đối với người lao động làm việc theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định

Theo quy định tại khoản 1, Điều 50 – Luật việc làm 2013 đã quy định mức hưởng tối đa trợ cấp thất nghiệp của người lao động là không quá 05 lần mức lương tối thiểu vùng đã được quy định. Như vậy, cùng với việc mức lương tối thiểu vùng được tăng lên tại Nghị định 38/2022/NĐ-CP, mức hưởng tối đa trợ cấp thất nghiệp đối của người lao động cũng được tăng lên tương ứng, cụ thể:

(Đơn vị tính: đồng/tháng)

Vùng

Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp tối đa trước 01/7/2022

Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp tối đa từ 01/7/2022

Mức tăng

Vùng I

22.100.000

23.400.000

1.300.000

Vùng II

19.600.000

20.800.000

1.200.000

Vùng III

17.150.000

18.200.000

1.050.000

Vùng IV

15.350.000

16.250.000

900.000

3. Trở lại mức đóng BHXH 0,5% hoặc 0,3% vào quỹ bảo hiểm TNLĐ, BNN từ ngày 01/7/2022

Để hỗ trợ NLĐ và NSDLĐ gặp khó khăn do Covid-19, tại Nghị quyết 68/NQ-CP năm 2021, Chính phủ đã cho phép người sử dụng lao động được áp dụng mức đóng bằng 0% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng BHXH vào Quỹ bảo hiểm TNLĐ, BNN trong 12 tháng (từ ngày 01/7/2021 đến hết ngày 30/6/2022) đối với những NLĐ thuộc đối tượng áp dụng chế độ bảo hiểm TNLĐ, BNN ( (trừ cán bộ, công chức, viên chức, người thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, NLĐ trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập được hưởng lương từ ngân sách nhà nước).

Điều này đồng nghĩa với việc, từ ngày 01/7/2022, NSDLĐ sẽ không còn được giảm mức đóng BHXH vào quỹ bảo hiểm TNLĐ, BNN. Cụ thể, mức đóng vào quỹ bảo hiểm TNLĐ, BNN từ ngày 01/7/2022 như sau:

  • Mức đóng bình thường bằng 0,5% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng BHXH;
  • - Mức đóng bằng 0,3% quỹ tiền lương làm căn cứ đóng BHXH áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trong các ngành nghề có nguy cơ cao về TNLĐ-BNN, nếu đủ điều kiện quy định, có văn bản đề nghị và được Bộ LĐ-TB&XH chấp thuận.

Như vậy, kể từ ngày 01/7/2022, doanh nghiệp phải đóng trở lại mức đóng BHXH 0,5% hoặc 0,3% vào quỹ bảo hiểm TNLĐ, BNN.

4. Từ ngày 01/7/2022, các doanh nghiệp phải chuyển đổi từ hóa đơn giấy sang hóa đơn điện tử

Kể từ ngày 01/7/2022, Nghị định 123/2020/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư 78/2021/TT-BTC của Bộ Tài chính ban hành quy định, hướng dẫn về hóa đơn, chứng từ sẽ có hiệu lực. Theo đó các cơ quan, tổ chức, cá nhân đáp ứng điều kiện về cơ sở hạ tầng được khuyến khích chuyển đổi sang hóa đơn điện tử trước ngày 01/7/2022 và bắt buộc sử dụng hóa đơn điện tử kể từ ngày 01/7/2022.

Trong đó, các trường hợp bắt buộc áp dụng hóa đơn diện tử khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ được quy định tại khoản 1, Điều 13 Nghị định 123/2020/NĐ-CP và Điều 91 Luật Quản lý thuế 2019 như sau:

- Doanh nghiệp, tổ chức kinh tế sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ không phân biệt giá trị từng lần bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều này.

- Doanh nghiệp kinh doanh ở lĩnh vực điện lực, xăng dầu, bưu chính viễn thông, nước sạch, tài chính tín dụng, bảo hiểm, y tế, kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh siêu thị, thương mại, vận tải hàng không, đường bộ, đường sắt, đường biển, đường thủy và doanh nghiệp, tổ chức kinh tế đã hoặc sẽ thực hiện giao dịch với cơ quan thuế bằng phương tiện điện tử, xây dựng hạ tầng công nghệ thông tin, có hệ thống phần mềm kế toán, phần mềm lập hóa đơn điện tử đáp ứng lập, tra cứu hóa đơn điện tử, lưu trữ dữ liệu hóa đơn điện tử theo quy định và bảo đảm việc truyền dữ liệu hóa đơn điện tử đến người mua và đến cơ quan thuế thì được sử dụng hóa đơn điện tử không có mã của cơ quan thuế khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, không phân biệt giá trị từng lần bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, trừ trường hợp rủi ro về thuế cao theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính và trường hợp đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế.

- Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thuộc trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 51 của Luật quản lý thuế và các trường hợp xác định được doanh thu khi bán hàng hóa, dịch vụ sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế khi bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ.

- Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh không đáp ứng điều kiện phải sử dụng hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều này nhưng cần có hóa đơn để giao cho khách hàng hoặc trường hợp doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức khác được cơ quan thuế chấp nhận cấp hóa đơn điện tử để giao cho khách hàng thì được cơ quan thuế cấp hóa đơn điện tử có mã theo từng lần phát sinh và phải khai thuế, nộp thuế trước khi cơ quan thuế cấp hóa đơn điện tử theo từng lần phát sinh.

Tuy nhiên, vẫn có các trường hợp không bị bắt buộc phải áp dụng hóa đơn điện tử khi mua bán, cung cấp dịch vụ theo khoản 1 và 2, Điều 12 – Thông tư 78/2021/TT-BTC, đó là các trường hợp thỏa mãn điều kiện sau:

- Thành lập trong thời gian từ ngày 17/09/2021 đến ngày 30/06/2022;

- Chưa đáp ứng điều kiện về hạ tầng CNTT mà tiếp tục sử dụng hóa đơn theo quy định cũ.

Như vậy, kể từ ngày 01/7/2022, các doanh nghiệp bắt buộc phải hóa đơn điện tử khi mua bán, cung cấp dịch vụ, trừ trường hợp không đáp ứng điều kiện về hạ tầng CNTT.

#legalnews #tintucphaply #cilaf

————————

Nếu còn thắc mắc, hoặc cần tư vấn pháp luật vui lòng liên hệ:

CÔNG TY LUẬT CILAF & PARTNERS

Address: 88 Nguyễn Đệ, P. An Thới, Q. Bình Thủy, TP. Cần Thơ.

Phone: 0706.68.78.68

Mail: contact@cilaf.vn

Website: www.cilaf.vn

Hoặc inbox trực tiếp qua Fanpage

Facebook: Công ty Luật Cilaf & Partners

Link: https://www.facebook.com/cilaf.vn

Zalo OA: https://zalo.me/2884625428758109382