Xác định tài sản chung, riêng của vợ, chồng khi ly hôn

Tôi và chồng kết hôn năm 2017, đến đầu năm 2018, ba mẹ tôi cho tôi phần đất 120m2 tại phường Tân Phú, quận Cái Răng (tôi đứng tên riêng). Cuối năm 2018, tôi và chồng cùng xây nhà trên phần đất này bằng tiền tích góp riêng của 2 vợ chồng, trong đó có phần tiền và vàng cưới ba mẹ chồng cho khi đám cưới. Đầu năm 2020, vợ chồng tôi thường xuyên tranh cãi, không còn tiếng nói chung trong quá trình sinh sống nên tôi muốn ly hôn. Trong trường hợp ly hôn thì phần đất và nhà trên đất sẽ chia như thế nào? Tôi có quyền sở hữu riêng về phần đất ba mẹ tôi đã cho hay không?

Nguyễn Thị Hồng Phượng (phường An Hòa, quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ)

Xung quanh vấn đề này, Luật sư Võ Hoàng Tâm, Luật sư điều hành Công ty Luật hợp danh Cilaf & Partners, cho biết:

Theo trình bày của bạn, phần nhà được hình thành từ 2 khối tài sản là: tiền do hai vợ chồng tích cóp và vàng cưới do ba mẹ chồng cho khi đám cưới. Đối với phần tiền, đây là tài sản chung của vợ chồng; đối với phần vàng cưới do ba mẹ chồng cho thì theo Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 20-1-1988 của Hội đồng thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao hướng dẫn Luật Hôn nhân và Gia đình có quy định đối với “Đồ trang sức mà người vợ hoặc người chồng được cha mẹ vợ hoặc chồng tặng, cho riêng trong ngày cưới là tài sản riêng. Nhưng nếu những thứ đó được cho chung cả hai người với tính chất là tạo dựng cho vợ chồng một số vốn, thì coi là tài sản chung. Khi chia tài sản chung, những trang sức có giá trị không lớn so với tài sản chung thì chia cho người đang sử dụng”.

Nghị quyết số 01/HĐTP đã được thay thế bằng Nghị quyết 02/2000/HĐTP. Tuy nhiên, cả hai nghị quyết này đều đã hết hiệu lực và chưa có văn bản nào khác thay thế. Tóm lại, đối với phần nhà là tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân, có nguồn gốc một phần từ tiền do hai vợ chồng tích cóp và phần vàng do ba mẹ chồng cho khi đám cưới là tài sản chung của vợ chồng. Khi phân chia phần nhà, nếu bạn chứng minh được phần vàng được ba, mẹ chồng cho riêng và phần vàng này được sử dụng để xây dựng căn nhà thì bạn sẽ được chia phần nhiều hơn khi phân chia.

Về phần đất, nếu như khi tặng cho quyền sử dụng đất, ba mẹ bạn thể hiện bằng ý chí chỉ tặng cho riêng bạn và hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất hoặc các văn bản có nội dung tương tự (có giá trị pháp lý) chỉ ghi tên bạn thì đây là tài sản riêng của bạn. Nếu như khi tặng cho quyền sử dụng đất ba mẹ bạn tặng cho bạn nhưng với mục đích là tạo dựng nơi ăn, chốn ở hoặc tạo lập tài sản chung cho vợ chồng và hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất hoặc các văn bản có nội dung tương tự (có giá trị pháp lý)… ghi cả tên bạn và chồng bạn thì đây là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Nếu trong trường hợp này, mặc dù giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ đứng tên một mình bạn và cả hai không có thỏa thuận chỉ một mình bạn đứng tên thì căn cứ vào khoản 1 điều 34 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và khoản 4 điều 98 Luật Đất đai năm 2013, khoản 2 điều 12 Nghị định 126/2014/NĐ-CP thì chồng bạn có quyền yêu cầu Văn phòng đăng ký đất đai chỉnh lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên cả 2 vợ chồng.

Theo báo Cần Thơ: https://baocantho.com.vn/xac-dinh-tai-san-chung-rieng-cua-vo-chong-khi-ly-hon-a125217.html

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *